Tư vấn:      Hotline: 1900.8909
suc khoe, sức khỏe, bao suc khoe, suc khoe sinh san, suc khoe phu nu
Loading

Tìm hiểu về bệnh lý xơ vữa động mạch

Vữa xơ động mạch (VXĐM) là quá trình bệnh diễn ra song song để tạo thành mảng vữa và xơ cứng ĐM.Hậu quả lâu dài sẽ gây ra tăng huyết áp, bóc tách thành động mạch hoặc tai biến mạch não,nhồi máu cơ tim...

 động mạch bị xơ vữa gây hẹp lòng mạch

1. Yếu tố nguy cơ:

          Cho đến nay chưa biết nguyên nhân gây bệnh VXĐM, nhưng đã biết được những yếu tố nguy cơ (risk fartors):

          - Tuổi ≥ 55, ĐM giảm khả năng đàn hồi, cứng ĐM do quá trình lão hoá.

          - Nam giới bị VXĐM với tỷ lệ cao hơn nữ giới, nhưng đến khi nữ giới ở tuổi tiền mạn kinh thì tỷ lệ bị VXĐM giữa nam và nữ là ngang nhau.

          - Yếu tố di truyền và tính  gia đình.

          - Hút thuốc lá: mỗi ngày  ≥ 10 điếu       

          - Tăng HA (≥ 140/90mmHg) lâu ngày kéo dài sẽ thúc đẩy VXĐM phát sinh, phát triển những biến chứng.

          - Béo phì: những người có chỉ số khối lượng cơ thể ≥ 30.

          - Tăng lipit máu: tăng cholesterol ≥ 5,5mmol/l, tăng triglycerit ≥ 2,3mmol/l, tăng VLDL và LDL, giảm HDL...

          - Tăng glucose máu lúc đói (6,1-6,9mmol/l), rối loạn dung nạp glucose máu; đái tháo đường, nhất là đái tháo  đường típ 2.

          - Ít hoạt động thể lực.

          - Căng thẳng thần kinh tâm lý.

          - Ăn mặn:

         - Tăng nồng độ axit uric máu, gây tổn thương lớp nội mạc động  mạch  là cơ sở đầu tiên để phát triển mảng vữa.

      + Vậy quá trình hình thành mảng vữa xơ như thế nào ?

        Khi thành động mạch bị tổn thương (lớp nội mạc  và lớp áo giữa), đại thực bào xuyên  mạch vào lớp áo giữa của thành động mạch, mang theo trong bào tương các thành phần lipit (cholesterol) (gọi là tế bào có bọt) tích tụ, tập trung, sau đó bị tổn thương màng tế bào, tế bào chết để lại từng dải lipit; tại đây các tiểu cầu, hồng cầu, bạch cầu, quá trình đông máu, lắng đọng Ca++ và tạo màng  bao bọc mảng vữa xơ. Tại mảng vữa xơ luôn tiết ra các enzyme phá hủy màng, làm cho màng bao bọc mảng vữa xơ bị nứt vỡ, kích hoạt quá trình  đông máu, tạo thành những cục máu đông gây thiếu máu cấp tính tổ chức dưới chỗ tắc (như: nhồi máu cơ tim cấp tính, nhồi máu não, hoại tử chi dưới...).

2. Biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của vữa xơ động mạch.

          Phụ thuộc vào vị trí và mức độ gây hẹp lòng ĐM của mảng vữa xơ:

          + Vữa xơ động mạch não:

          - Hay gặp là động  mạch  não giữa, giai đoạn đầu chỉ là rối loạn chức năng hưng phấn và ức chế do thiếu máu não, về sau có những cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua, nặng nhất là tắc mạch não gây đột qụy thiếu máu (tùy thuộc vị trí, kích thước tổn thương theo WHO-1999) để gây ra những bệnh cảnh tổn thương khác nhau: bại, liệt, hôn mê, tử vong...

          - Chẩn  đoán  dựa vào: siêu âm xuyên sọ, chụp động mạch  não, chụp não cắt lớp vi tính (CT- Scanner) 15 ngày đầu có vùng giảm tỷ trọng < 40 Hu, chụp não cộng hưởng từ hạt nhân (MRI)...

          + Vữa xơ động mạch mắt: tùy độ tổn thương có thể gây rối loạn thị lực, mù loà do tổn thương võng mạc do thiếu máu nuôi; chẩn đoán nhờ soi đáy mắt.

         + Vữa xơ động mạch cảnh: hay gặp mảng vữa xơ ở động mạch cảnh chung, động mạch cảnh trong. Chẩn đoán nhờ siêu âm Doppler, chụp động mạch cảnh cản quang.

          + Vữa xơ động mạch mạc treo tràng trên, mạc treo tràng dưới, động mạch thượng vị: có thể gây thiếu máu, loét, thủng, rối loạn chức năng vùng nuôi dưỡng tương ứng.

          + Vữa xơ động mạch thân: gây hẹp động mạch thân, bệnh nhân bị tăng huyết áp mức độ nặng kèm theo suy thân. Chẩn đoán nhờ siêu âm Doppler (đo chỉ số trở

kháng RI > 0,7; hoặc chụp động mạch thân cản quang)

          + Vữa xơ động mạch vành:

          Động mạch vành trái hay bị vữa xơ hơn động  mạch vành phải, có thể vữa xơ một nhánh hay nhiều nhánh mạnh, tùy mức độ để tạo ra bệnh cảnh của thiếu máu cơ tim cục bộ như:

          . Cơn đau thắt ngực ổn định.

          . Cơn đau thắt ngực không ổn định.

          . Thiếu máu cơ tim cục bộ thể câm.

          . Nhồi máu cơ tim cấp.

          Chẩn đoán bệnh dựa vào lâm sàng, điện tim đồ (lúc tĩnh, gắng sức, hollter, kích thích nhĩ...), siêu âm tim, xạ hình tim..., nhưng quyết định nhất là chụp động mạch vành.

3. Điều trị:

          Bệnh vữa xơ động  mạch  là bệnh chưa biết nguyên nhân nên không điều trị khỏi được, quá trình điều trị chỉ góp phần làm chậm phát triển của bệnh, chậm quá trình tiến triển các biến chứng và hạn chế tổn thương do các biến chứng gây ra.     

          + Loại trừ các yếu tố tác động xấu:

          Những yếu tố có thể loại được như: hút thuốc, uống rượu, tăng lipit máu, điều trị tăng huyết áp, thể dục liệu pháp, ăn kiêng (mặn, mỡ động vật...), điều  trị đái tháo  đường...

+ Dùng các thuốc hạ mỡ máu:

+ Thuốc giãn mạch:

+ Thuốc ức chế dính kết tiểu cầu:

+ Điều trị vữa xơ động mạch bằng các bài thuốc y học dân tộc.

+ Điều trị bằng các phương pháp vật lý trị liệu.

+ Điều trị ngoại khoa và các kỹ thuật can thiệp:

          - Nong động mạch bị hẹp và đặt giá đỡ (stent) bằng ống thông có bóng qua da.

          - Đặt cầu nối  bypass.

          - Lấy bỏ mảng vữa xơ.

          - Cắt cụt chi hoại tử do thiếu máu...

          - Phẫu thuật điều trị phình bóc tách động mạch chủ.

+ Các biện pháp kết hợp những phương pháp trên.

 Chú ý: Nếu bạn có thắc mắc liên quan đến chuẩn đoán và điều trị bệnh lý xơ vữa động mạch hãy gọi điện đến tổng đài tư vấn sức khỏe 19008909 để nhận được sự tư vấn cụ thể.

BS. Đoàn Hằng

   GỬI BÌNH LUẬN
  
    Thay hình khác
suc khoe tre em, sức khỏe trẻ em
 Video tư vấn mới nhất
Get the Flash Player to see this player.
 Tin tiêu điểm
Tìm hiểu về điều trị HIV

Sau khi xâm nhập cơ thể, HIV tiến triển qua 3 giai đoạn: Giai đoạn nhiễm HIV không triệu chứng: từ lúc HIV bắt đầu xâm nhập cơ thể, kéo dài 5 -10 năm hoặc lâu hơn. Ở giai đoạn này, người có HIV vẫn khỏe mạnh bình thường.


tu van tam ly, tư vấn tâm lý

suc khoe nguoi cao tuoi, sức khỏe người cao tuổi

tư vấn sức khỏe qua điện thoại
suc khoe, bao suc khoe, sức khỏe