Tư vấn:      Hotline: 1900.6180
tu van suc khoe sinh san
Loading

Ung thư gan- những điều bạn nên biết

Phần lớn ung thư gan đều phát hiện muộn nên thời gian sống rất ngắn. Nắm vững hiểu biết về ung thư gan sẽ giúp phát hiện và điều trị sớm, kéo dài thời gian sống cho các bệnh nhân

Ung thu gan can benh co ti le tu vong cao nhat hien nay ...

1.  Các loại ung thư gan

 *Ung thư tế bào gan nguyên phát:

·         Trên 80% ung thư gan là ung thư tế bào gan nguyên phát, ung thư này xảy ra ở nam gấp đôi nữ và thường gặp ở tuổi trên 50 .

·         Ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC) bắt đầu xảy ra từ tế bào gan. Người ta chưa biết chính xác nguyên nhân HCC nhưng viêm gan do siêu vi mãn tính, xơ gan là yếu tố nguy cơ HCC. Xơ gan chiếm 80% truờng hợp HCC.

·         Dạng khác của ung thư gan là ung thư đường mật. Đây là ung thư xuất phát từ ống dẫn mật và nguyên nhân là do viêm xơ chai đường mật nguyên phát.Ung thư đường mật có thể do nhiễm ký sinh trùng , chẳng hạn như sán lá nhỏ. Ung thư này phát triển theo đường dẫn mật , rất khó thấy trên phim X quang.

*Ung thư di căn gan:

·         Ung thư xuất phát từ tế bào của các phần khác của cơ thể lan đến gan . Ung thư di căn gan có thể từ: ung thư đường tiêu hóa, vú , phổi, ung thư tủy…..Tùy theo cơ quan nào di căn đến gan mà gọi tên , ví dụ từ ung thư phổi thì gọi là ung thư gan thứ phát do di căn từ ung thư phổi.

2.   Nguyên nhân nào dẫn tới ung thư gan?

Chủ yếu ung thư gan (ung thư biểu bì gan) thường hình thành trong chính những lá gan do:

·         Khuyết tật bẩm sinh.

·         Do uống rượu, hay bị ảnh hưởng lâu dài bởi nhiều loại bệnh chẳng hạn như viêm gan B hay viêm gan C, hemochromatosis (trong gan có quá nhiều sắt).

·         Bệnh xơ gan (uống rượu làm cho gan bị tổn thương, viêm gan B hay C,  hay hemochromatosis đều chắc chắn là nguyên nhân làm hỏng và gây bệnh cho gan).

·         Những người mắc bệnh do di truyền gọi là hemochromatosis, hay bệnh thừa sắt, thì thậm chí nguy cơ ung thư còn hơn rất nhiều.

·         Do phơi nhiễm thuốc diệt cỏ và các chất hoá học như nhựa viny clorua và thạch tín.

·         Hút thuốc lại hay uống rượu thì càng làm tăng nguy cơ.

·         Chất độc tạo thành trong bào tử nấm được sinh ra từ một loại mốc của cây cũng gây ung thư. Những chất độc trong bào tử nấm sẽ làm hỏng lúa mỳ, lạc, gạo, ngô hay đậu tương.

 Những  yếu  tố thuận lợi khác bao gồm:

-  Giới tính: Đàn ông thường mắc bệnh ung thư gan nhiều hơn phụ nữ.

- Những vận động viên nữ phải sử dụng hormon để phát triển cơ trong thời gian dài có thể tăng nguy cơ ung thư gan.

- Các loại thuốc tránh thai. Chúng có thể tăng nguy cơ ung thư gan. Hầu hết những loại thuốc tránh thai có liên quan tới bệnh ung thư này đều không được sử dụng trong thời gian dài.

 

3.      Triệu chứng ung thư gan

- Triệu chứng của ung thư gan gồm: mệt , sốt , đau bụng, sụt cân không rõ nguyên nhân, ăn không ngon , dễ chảy máu hay dễ có vết bầm, vàng da, báng bụng.

 4.      Phương pháp điều trị ung thư gan

4.1 Các phương pháp điều trị tại chỗ

Phẫu thuật và tia xạ: Có khả năng điều trị triệt để khi bệnh còn ở giai đoạn sớm, tổn thương ung thư chỉ khu trú ở tại chỗ hoặc tại vùng. Nếu ung thư đã di căn xa, chúng ta có thể phải dùng phẫu thuật hay tia xạ để điều trị tạm thời hoặc giải quyết các triệu chứng.

*      Điều trị phẫu thuật

Phẫu thuật triệt để:

-   Cắt rộng, lấy toàn bộ khối ung thư và một phần tổ chức lành bao quanh u. Nếu có hạch vùng khả năng di căn, cần vét toàn bộ hạch vùng với mục đích không còn để sót lại tế bào ung thư. U, hạch và phần tổ chức lành xung quanh được lấy gọn thành một khối.

-  Phẫu thuật triệt để có khả năng chữa khỏi nhiều loại ung thư khi còn ở giai đoạn sớm (ước lượng khoảng 1/3 tổng số ung thư), nhất là đối với các bệnh ung thư: vú, cổ tử cung, khoang miệng, da, giáp trạng, ống tiêu hóa...

Phẫu thuật tạm thời:

-   Chỉ định trong một số trường hợp khi ung thư đã lan rộng nhằm mục đích tạm thời, làm giảm nhẹ u, làm sạch sẽ, mở thông đường thở, đường tiêu hóa, tiết niệu, cầm máu, chống đau...

Phẫu thuật với mục đích khác:

-   Nhằm kết hợp trong điều trị nội tiết để hạn chế ung thư phát triển như cắt buồng trứng để điều trị ung thư vú, cắt tinh hoàn để điều trị ung thư tuyến tiền liệt hoặc phẫu thuật tạo hình, phục hồi chức năng sau điều trị triệt để...

 

*      Điều trị tia xạ

-  Điều trị tia xạ là dùng tia phóng xạ để tiêu diệt các tế bào ung thư. Cùng với phẫu thuật, tia xạ là một trong hai phương pháp điều trị ung thư phổ biến nhất và hiệu quả nhất.

-  Điều trị tia xạ đơn thuần có thể chữa khỏi nhiều loại ung thư khi còn ở giai đoạn khu trú tại chỗ - tại vùng, nhất là trong các bệnh ung thư hạch bạch huyết, ung thư da, ung thư cổ tử cung, ung thư vòm họng, một số ung thư vùng đầu cổ.

-  Điều trị tia xạ phối hợp với phẫu thuật thường được áp dụng trong nhiều trường hợp khi ung thư đã phát triển tương đối lớn. Có khi tia xạ trước mổ nhằm giảm bớt thể tích u để dễ mổ, hạn chế di căn xa trong lúc mổ. Có khi tia xạ sau mổ nhằm diệt nốt những tế bào ung thư còn lại sau mổ. Có khi tia xạ cả trước mổ, cả sau mổ hoặc tia xạ phối hợp với hóa chất để tăng khả năng diệt tế bào ung thư tại một khu vực mà điều trị hóa chất không đủ khả năng diệt hết. Việc lập kế hoạch điều trị tia xạ cẩn thận, chi tiết làm cho việc tiêu diệt tổ chức ung thư tối đa mà ít ảnh hưởng đến tổ chức lành xung quanh. Tuy vậy tia phóng xạ không chỉ diệt tế bào ung thư mà có thể diệt luôn tế bào lành ở vùng bị chiếu gây ra các biến chứng (nếu sử dụng liều lượng không thích hợp hoặc kỹ thuật chiếu tia xạ không đúng...).

Có 3 phương pháp điều trị bằng tia xạ:

-   Tia xạ từ ngoài vào (máy Cobalt, quang tuyến X, máy gia tốc) là phương pháp áp dụng rộng rãi nhất.

-   Tia xạ trong (ống, kim Radium, máy Afterloading, sợi Ytrium...) đặt vào các hốc tự nhiên của cơ thể (tử cung, âm đạo, các xoang...) hoặc cắm vào các mô, tổ chức mang ung thư.

-   Tia xạ chuyển hóa, kết hợp chọn lọc: Uống hoặc tiêm các chất đồng vị phóng xạ (l131) hoặc kháng thể đặc hiệu có gắn đồng vị phóng xạ để diệt tế bào ung thư trong quá trình chuyển hóa và kết hợp có chọn lọc.

4.2 Các phương pháp điều trị toàn thân

-   Điều trị hóa chất (dùng thuốc chống ung thư), điều trị nội tiết (dùng nội tiết tố hoặc kháng nội tiết tố), điều trị miễn dịch (làm tăng sức đề kháng của cơ thể để diệt tế bào ung thư).

-  Các phương pháp này có tác dụng trên phạm vi toàn cơ thể, vì vậy điều trị hóa chất chỉ thường được áp dụng điều trị cho những ung thư có tính chất toàn thân hoặc đã lan rộng.

Điều trị hóa chất

-   Là phương pháp dùng thuốc (các hóa chất chống ung thư) để chữa bệnh, thường được áp dụng để chữa các ung thư của hệ thống tạo huyết (bệnh bạch cầu, u lymphô ác tính...) hoặc ung thư đã lan tràn toàn thân mà phẫu thuật và tia xạ không có khả năng điều trị được.

-   Hóa chất có thể điều trị triệt để các loại ung thư rất nhạy cảm với hóa chất như ung thư tinh hoàn, ung thư nhau thai (Choriocarcinome), thể ung thư tế bào mầm của buồng trứng và một số ung thư nguyên bào ở trẻ em, ung thư hạch bạch huyết...

-   Hóa chất hỗ trợ cho phẫu thuật và tia xạ: trong một số trường hợp ung thư đã lan rộng (ung thư vú, ung thư buồng trứng, ung thư phần mềm...).

-   Hóa chất điều trị tạm thời: (hiếm áp dụng) cho ung thư đã lan tràn toàn thân nhưng ít nhiều có nhạy cảm với hóa chất, điều trị nhằm mục đích kéo dài cuộc sống hoặc tạm thời có cảm giác dễ chịu. Điều trị hóa chất không chỉ giá thành hiện nay còn đắt mà thông thường thuốc có nhiều tác dụng độc hại, vì sử dụng nó như con dao hai lưỡi. Người thầy thuốc chuyên khoa hóa chất phải biết mức độ nhạy cảm thuốc của từng loại tế bào ung thư, từng vị trí và giai đoạn bệnh, sức chịu đựng của từng bệnh nhân để chọn thuốc thích hợp hoặc phối hợp nhiều loại thuốc để có tác dụng tối đa trên ung thư và giảm độc hại tối thiểu đối với cơ thể.

Điều trị nội tiết

Có một số loại ung thư điều trị bằng nội tiết có tác dụng lui bệnh tốt, vì vậy được sử dụng như một biện pháp phối hợp.

Điều trị nội tiết có thể bằng cách:

-  Cho thêm nội tiết tố (hormon): như dùng cortison và các dẫn chất cortioide, hay dùng trong phác đồ điều trị ung thư máu, ung thư hạch bạch huyết. Cho testosteron trong điều trị ung thư vú, cho nội tiết tố nữ oestradiol, progesteron trong ung thư tuyến tiền liệt...

-  Cắt bỏ tuyến tiền liệt, cắt buồng trứng trong ung thư vú, cắt tinh hoàn trong ung thư tuyến tiền liệt.

-  Cho thuốc ức chế sản xuất một nội tiết tố hoặc ức chế tác dụng của nội tiết tố trên tế bào ung thư (tamoxiphen kháng oestrogen trong điều trị ung thư vú).

Điều trị miễn dịch

Mục đích chính của điều trị miễn dịch là làm tăng sức đề kháng của cơ thể để cơ thể có thể tự tiêu diệt nốt các tế bào ung thư còn sót lại mà các phương pháp kinh điển phẫu thuật, tia xạ, hóa chất không diệt hết được.

-   Miễn dịch chủ động, dùng một số chất kích thích miễn dịch đưa vào cơ thể bệnh nhân: BCG, LH1...

-   Miễn dịch thụ động, dùng kháng nguyên tế bào ung thư của bệnh nhân đưa vào cơ thể khác (người khác hoặc động vật thí nghiệm) gây miễn dịch với tế bào ung thư. Dùng một phần huyết thanh hoặc bạch cầu đã miễn dịch đó truyền trở lại cho người bệnh với hi vọng diệt ung thư. Phương pháp này được nghiên cứu nhiều ở Pháp và một số nước châu Âu, chưa có kết quả rõ rệt.

 

   GỬI BÌNH LUẬN
  
    Thay hình khác
suc khoe tre em, sức khỏe trẻ em
suc khoe, bao suc khoe, sức khỏe