Tư vấn:      Hotline: 1900.6180
tu van suc khoe sinh san
Loading

Những loại thuốc có thể gây tăng huyết áp

Tăng huyết áp là một bệnh lý tim mạch nguy hiểm. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tăng huyết áp như: hút thuốc lá, béo phì, ăn nhiều muối, ít hoạt động thể lực, tuổi cao, gia đình có tiền sử tăng huyết áp. Một yếu tố ít gặp nhưng nguy hiểm là do sử dụng các thuốc có thể gây tăng huyết áp. Các dược phẩm, thực phẩm bổ sung và dược liệu có thể gây tăng huyết áp thông qua cơ chế tăng giữ thể tích tuần hoàn, kích thích dẫn truyền thần kinh giao cảm hoặc co mạch.

 

Những loại thuốc có thể gây tăng huyết áp

 

Tăng huyết áp là một bệnh lý tim mạch nguy hiểm. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tăng huyết áp như: hút thuốc lá, béo phì, ăn nhiều muối, ít hoạt động thể lực, tuổi cao, gia đình có tiền sử tăng huyết áp. Một yếu tố ít gặp nhưng nguy hiểm là do sử dụng các thuốc có thể gây tăng huyết áp. Các dược phẩm, thực phẩm bổ sung và dược liệu có thể gây tăng  huyết áp thông qua cơ chế tăng giữ thể tích tuần hoàn, kích thích dẫn truyền thần kinh giao cảm hoặc co mạch.

1. Các thuốc gây giữ nước, tăng thể tích tuần hoàn

  • Thuốc giảm đau, chống viêm

  • Các thuốc chống viêm không steroid (NSAID):

Sự ức chế cyclooxygenase làm giảm nồng độ prostaglandin, dẫn đến co mạch thận, giảm bài xuất natri, gây giữ dịch, có thể làm tăng huyết áp lên khoảng 3-5mmHg. Tăng huyết áp do NSAID thường gặp ở bệnh nhân mắc bệnh thận mạn. Ngoài ra các NSAID còn làm giảm hiệu quả các thuốc điều trị tăng huyết áp. Các NSAID có nguy cơ cao gây tăng huyết như: piroxicam, indomethacin, ibuprofen, naproxen.

  • Các glucocorticoid và mineralocorticoid:

Cơ chế gây tăng huyết áp của glucocorticoid là tăng hấp thu natri ở thận, kéo theo nước, dẫn đến tăng thể tích tuần hoàn. Mức độ tăng huyết áp phụ thuộc vào liều. Thường gặp phải khi điều trị ngắn hạn. Điều này có thể nhận thấy khi dùng thuốc theo bất cứ đường dùng nào, kể cả dùng ngoài da. Các mineralocorticoid có tác dụng trực tiếp gây co mạch – làm tăng huyết áp.

  • Các chế phẩm thuốc tránh thai

Các thuốc tránh thai chứa estrogen làm tăng huyết áp thông qua cơ chế tăng sản xuất angiotensin II, dẫn đến tăng tiết aldosteron, gây giữ muối nước. Có thể gây tăng huyết áp lên 8 mmHg, xảy ra khoảng 5% phụ nữ dùng thuốc tránh thai.

Có khoảng 1% những trường hợp dùng thuốc có tăng huyết áp nặng. Huyết áp trở lại mức bình thường sau khi ngừng dùng thuốc vài tuần. Viên thuốc tránh thai chỉ chứa progesteron thì không gây tăng huyết áp.

2. Các thuốc hoạt hóa hệ thần kinh giao cảm

  • Thuốc chống trầm cảm

Các thuốc chống trầm cảm có thể kích thích thụ thể α1 dẫn đến co mạch, tăng huyết áp. Các thuốc IMAO có tác dụng ức chế sự chuyển hóa của các monoamine giống giao cảm, gây tăng huyết áp cấp cứu khi dùng cùng với các thực phẩm chứa tyramin (pho mát, thịt xông khói, cá ướp muối). Các thuốc chống trầm cảm 3 vòng có thể gây tăng huyết áp tâm thu và tâm trương lên khoảng 8 mmHg. Các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrin tác động lên mức huyết áp khác nhau tùy từng thuốc, ví dụ venlafaxin, milnacipran có nguy cơ gây tăng huyết áp đáng kể.

Hầu hết các thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin ít gây tăng huyết áp.

  • Các thuốc giống giao cảm

Ephedrin và những chất khác như pseudoephedrin, norpseudoephedrin, methylephedrin và norephedrin (phenyl propanolamin) đều có tác dụng chống giao cảm. Phenylephdrin và pseudoephedrin được dùng chống xung huyết tại chỗ niêm mạc mũi, và gây co mạch, chống ngạt mũi. Dùng tại chỗ với liều cao hay dùng toàn thân có thể gây tăng huyết áp. Tất cả những thuốc này đều chống chỉ định ở những bệnh nhân thiếu máu cục bộ cơ tim, do cá thể gây co thắt động mạch vành.

  • Các thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương:

Các thuốc cocain gây loạn nhịp tim, tăng huyết áp cấp, tác động phụ thuộc liều

Các thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương như dexamphetamin và methyl phenidat có tác dụng giống giao cảm, hay được dùng trong các chứng tăng động giảm chú ý hay gây tăng huyết áp, có thể dẫn tới xuất huyết nội sọ, co thắt động mạch và thiếu máu cục bộ cơ tim.

  • Rượu

Cơ chế gây tăng huyết áp có thể là kích thích hệ giao cảm, hoạt hóa hệ renin- angiotensin- aldosteron (RAAS), thông qua canxi.

  • Erythropoietin

Cơ chế có thể liên quan đến kích thích hệ RAAS, giảm hình thành NO, tăng độ nhớt máu và thông qua canxi.

3. Các thuốc gây co mạch trực tiếp

Thuốc ức chế calcineurin như cyclosporin có thể gây tăng huyết áp do giảm NO là một chất giãn mạch.

Thuốc ức chế yếu tố tăng sinh nội mạch tăng huyết áp ở 20% bệnh nhân điều trị, 6% xảy ra ở mức độ trầm trọng.

4. Các thực phẩm gây tăng huyết áp

Nhiều loại thực phẩm và dược liệu gây tăng huyết áp như muối natri, ma hoàng, cam chua, cam thảo, alkaloid cựa lúa mạch, rễ cây ba gạc…


   GỬI BÌNH LUẬN
  
    Thay hình khác
suc khoe tre em, sức khỏe trẻ em

tu van hiv online

 Tin tiêu điểm
Dấu hiệu của bệnh viêm xoang

Dấu hiệu của bệnh viêm xoang
Viêm xoang là bệnh rất phổ biến hay gặp ở các nước khí hậu nhiệt đới gió mùa. Khi thời tiết thay đổi, trở lạnh thì bệnh viêm xoang thường phát tác và gây khó chịu cho người bệnh rất nhiều.
• Viêm xoang là tình trạng nhiễm trùng màng niêm mạc lót trong long các xoang gây ra bởi các vi trùng, siêu vi trùng hay dị ứng gây ra phù nề, thu hẹp đường kính các lỗ xoang làm cho mủ và dịch viêm ứ đọng trong xoang không thoát ra ngoài được
• Viêm xoang có 2 dạng chính là viêm xoang cấp tính và viêm xoang mãn tính. Viêm xoang cấp tính thường xảy ra ở xoang sàng, xoang trán, xoang bướm và viêm đa xoang.
• Viêm xoang là một bệnh lý nhiễm trùng nên thường có những dấu hiệu như đau nhức, sốt, chảy dịch, nghẹt mũi hay điếc mũi. Tuy nhiên, việc phát hiện bệnh rất khó khăn vì những dấu hiệu đặc trưng của bệnh không rõ ràng, nhất là ở giai đoạn đầu.
Những dấu hiệu đặc trưng chỉ xuất hiện khi bệnh đã vào giai đoạn nặng.
Đau nhức:
Vùng xoang viêm có cảm giác đau nhức và tùy thuộc xoang bị viêm ở vùng nào thì cảm giác đau nhức sẽ xuất hiện ở vùng đó. Nếu bị viêm xoang hàm sẽ cảm thấy đau nhức ở vùng má, viêm xoang trán thì đau nhức khu vực ở giữa 2 lông mày và đau trong một khung giờ nhất định. Nếu viêm xoang sàng trước thì người bệnh sẽ cảm thấy đau nhức ở giữa 2 mắt, nếu viêm xoang sàng sau và xoang bướm sẽ cảm thấy nhức trong sâu và vùng gáy.
Hiện tượng chảy dịch:
Khi xoang bị viêm, thường có hiện tượng chảy dịch, dịch nhày có thể chảy ra phía mũi hoặc xuống họng tùy thuộc vào vị trí xoang bị viêm. Nếu bệnh nhân bị viêm xoang trước dịch sẽ chảy ra mũi trước, nếu bị viêm xoang sau dịch chảy xuống họng. Khi bị chảy dịch, mũi bệnh nhân luôn phải khụt khịt hay cảm thấy khó chịu ở cổ họng, muốn khạc nhổ liên tục. Tùy vào tình trạng mức độ của bệnh mà dịch sẽ có màu trắng, đục, vàng nhạt hay màu xanh, có mùi hôi cực kỳ khó chịu.
Nghẹt mũi:
Đây là hiện tượng đặc trưng không thể thiếu khi bị viêm xoang. Người bệnh có thể bị nghẹt 1 hay cả 2 bên, đồng thời thấy khó thở, khó chịu trong người và mệt mỏi.
Điếc mũi:
Khi xoang bị viêm, nếu không được chữa trị sớm và tích cực thì bệnh sẽ trở nên nặng, nó gây phù nề nhiều, người bệnh không còn phân biệt được mùi khi ngửi do thần kinh khứu giác không còn cảm nhận được mùi.
Ngoài ra, viêm xoang còn có thể có một số dấu hiệu khác như đau đầu, có thể có sốt nhẹ hay sốt cao, khi nghiêng người về phía trước sẽ có cảm giác chóng mặt hay choáng váng, đau xung quanh vùng mắt theo từng cơn và nhịp mạch đập. Đau nhức mỗi khi hắt hơi mạnh, người bệnh không thể tập trung, không muốn ăn. Nếu viêm xoang nặng có thể bị viêm thần kinh mắt dẫn tới mờ mắt.


tu van tam ly, tư vấn tâm lý

suc khoe nguoi cao tuoi, sức khỏe người cao tuổi

suc khoe, bao suc khoe, sức khỏe